Bố Y
Tên khác: Chủng Chá, Trọng Gia, Tu Dí, Tu Dìn
3.200
Dân số
Tày - Thái (ngữ hệ Tai - Kadai)
Nhóm ngôn ngữ
Lào Cai (Mường Khương), Hà Giang (Quản Bạ)
Địa bàn chính
Giới thiệu
Dân tộc Bố Y (còn gọi là Chủng Chá, Trọng Gia, Tu Dí, Tu Dìn) — Người Bố Y có nguồn gốc từ Quý Châu, Trung Quốc, có trang phục độc đáo và các làn điệu dân ca phong phú. Họ là dân tộc rất ít người với bản sắc văn hóa đặc trưng, mang nhiều nét giao thoa văn hóa Tày - Thái và Hoa.
Video minh họa
Nhóm ngôn ngữ
Người Bố Y thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái trong ngữ hệ Tai - Kadai. Tiếng Bố Y có nhiều điểm tương đồng với tiếng Tày, tiếng Thái và tiếng Bố Y (Buyi/Bouyei) ở Quý Châu, Trung Quốc. Tuy nhiên, do sống xen kẽ lâu đời với người Hoa, Nùng, Hmông, tiếng Bố Y đã vay mượn nhiều từ vựng từ các ngôn ngữ này, đặc biệt là tiếng Hoa (phương ngữ Quý Châu). Nhiều người Bố Y ở Việt Nam hiện nay nói thông thạo 2-3 ngôn ngữ: tiếng Bố Y, tiếng Hoa (Quan Hỏa) và tiếng Việt.
Tên gọi khác
Dân tộc Bố Y có nhiều tên gọi khác nhau tùy theo vùng:
- Chủng Chá: Tên tự gọi phổ biến nhất của người Bố Y ở Lào Cai.
- Trọng Gia: Tên gọi cũ trong các tài liệu dân tộc học thời Pháp thuộc.
- Tu Dí / Tu Dìn: Tên gọi ở một số địa phương, đôi khi bị nhầm lẫn với nhóm người Tu Dí khác.
Ở Trung Quốc, dân tộc tương ứng là người Bố Y (Buyi/Bouyei) – một trong 55 dân tộc thiểu số, với dân số khoảng 3 triệu người, chủ yếu ở tỉnh Quý Châu.
Quá trình hình thành
Người Bố Y ở Việt Nam có nguồn gốc từ tộc người Bách Việt cổ đại, cùng gốc với nhóm Bố Y (Buyi) ở tỉnh Quý Châu, Trung Quốc. Tổ tiên người Bố Y di cư sang Việt Nam cách đây khoảng 200 – 300 năm, chủ yếu qua các đợt di dân từ vùng biên giới Trung Quốc.
Họ định cư ở vùng biên giới phía Bắc, tập trung tại huyện Mường Khương (Lào Cai) và huyện Quản Bạ (Hà Giang). Trong quá trình sinh sống, người Bố Y giao lưu văn hóa mạnh mẽ với người Hoa, Tày, Nùng, tạo nên bản sắc văn hóa mang tính giao thoa độc đáo – vừa giữ được nét Tày - Thái cổ, vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc từ văn hóa Hoa.
Do dân số ít (khoảng 3.200 người), người Bố Y được xếp vào nhóm dân tộc rất ít người cần được bảo tồn đặc biệt.
Trang phục
Trang phục người Bố Y mang nhiều nét đặc trưng, khác biệt rõ rệt so với các dân tộc cùng vùng:
- Phụ nữ: Mặc áo dài năm thân, cổ đứng, cài khuy bên phải (kiểu áo gần giống áo dài của người Hoa). Áo may bằng vải chàm hoặc vải đen, có đường viền hoa văn ở cổ, nẹp áo, tay áo và gấu áo bằng vải màu tương phản.Mặc quần dài ống rộng. Đặc biệt, phụ nữ Bố Y đội khăn đen lớn quấn thành hình chóp trên đầu, rất dễ nhận biết. Đeo trang sức bạc: vòng cổ, vòng tay, khuyên tai, xà tích.
- Nam giới: Mặc áo cánh ngắn, cổ đứng, cài khuy bên phải, quần dài ống rộng, vải chàm đen. Đội mũ nồi hoặc khăn quấn đầu.
- Trang phục ngày lễ, Tết cầu kỳ hơn, phụ nữ mặc áo mới, đeo đầy đủ trang sức bạc.
Ẩm thực
Ẩm thực của người Bố Y phong phú, mang nhiều nét ảnh hưởng của ẩm thực Hoa và Tày:
- Gạo là lương thực chính, cơm gạo tẻ ăn hàng ngày. Xôi ngũ sắc (nhuộm từ lá cây tự nhiên) là món ăn đặc biệt trong dịp Tết và lễ hội.
- Bánh chưng, bánh dày: Là món ăn truyền thống trong dịp Tết Nguyên Đán, tương tự như phong tục người Kinh.
- Thịt lợn muối chua: Thịt lợn ướp muối, ủ chua trong chum vại – cách bảo quản thực phẩm truyền thống.
- Rượu ngô, rượu gạo: Tự nấu, dùng trong mọi dịp lễ hội và tiếp khách.
- Đậu phụ: Rất phổ biến trong bữa ăn hàng ngày, ảnh hưởng từ ẩm thực Hoa.
- Các món xào, nấu sử dụng nhiều gia vị: gừng, tỏi, ớt, mắc khén, hạt dổi.
- Cơm lam (cơm nấu trong ống tre) dùng trong các dịp đi rừng, lễ hội.
- Rau rừng, măng, nấm – thu hái từ thiên nhiên.
Phong tục
- Hôn nhân: Theo chế độ một vợ một chồng, ngoại hôn dòng họ. Quy trình cưới xin phức tạp, qua nhiều bước: xem mặt, dạm ngõ, ăn hỏi, đón dâu. Nhà trai phải mang sính lễ gồm lợn, rượu, bạc trắng, vải vóc sang nhà gái. Đặc biệt, người Bố Y có tục xem tuổi (hợp tuổi) trước khi quyết định hôn nhân, chịu ảnh hưởng từ văn hóa Hoa.
- Tang lễ: Rất trang trọng, kéo dài nhiều ngày. Thầy cúng làm lễ chiêu hồn, dẫn đường cho linh hồn người chết qua các chặng đường về với tổ tiên. Người chết được chôn theo phong tục, chọn hướng mộ theo phong thủy.
- Tục đặt tên: Trẻ sơ sinh được đặt tên sau khi sinh vài ngày, theo nguyên tắc đặt tên theo thế hệ (lót chữ đệm theo thứ tự bài thơ gia phả) – nét ảnh hưởng rõ rệt từ văn hóa Hoa.
- Tục cúng Tết Thanh Minh: Tảo mộ, thắp hương, cúng tổ tiên tại mộ – phong tục rất quan trọng.
- Tục cúng đầu năm: Mùng 1 Tết dậy sớm thắp hương, cúng tổ tiên, đi lấy nước lộc.
Tín ngưỡng
Tín ngưỡng người Bố Y mang tính đa tầng, kết hợp nhiều yếu tố:
- Thờ cúng tổ tiên: Là tín ngưỡng trung tâm, bàn thờ tổ tiên đặt ở gian chính ngôi nhà. Mỗi gia đình đều giữ gia phả ghi chép nhiều đời, thể hiện sự coi trọng nguồn gốc dòng họ.
- Ảnh hưởng Đạo giáo: Người Bố Y chịu ảnh hưởng đáng kể của Đạo giáo (Lão giáo), thể hiện qua: thờ Ngọc Hoàng, Táo Quân; xem phong thủy khi làm nhà, chọn mộ; đốt vàng mã trong tang lễ, cúng giỗ.
- Vạn vật hữu linh: Tin rằng trời đất, núi sông, cây cối đều có thần linh cai quản.
- Thầy cúng (thầy Tào): Có vai trò quan trọng, chủ trì các nghi lễ, xem ngày, chữa bệnh bằng bùa phép và thảo dược. Thầy Tào được đào tạo bài bản, truyền thừa từ đời này sang đời khác.
- Tục cúng thổ địa: Thờ thần đất bảo hộ gia đình và bản làng.
Chữ viết
Người Bố Y ở Việt Nam không có chữ viết riêng. Tuy nhiên, do ảnh hưởng sâu sắc từ văn hóa Hoa, nhiều thầy cúng (thầy Tào) Bố Y sử dụng chữ Hán để ghi chép các bài cúng, gia phả, sách thuốc. Một số gia đình Bố Y còn lưu giữ gia phả viết bằng chữ Hán nhiều đời.
Ở Trung Quốc, người Buyi đã được xây dựng hệ thống chữ viết dựa trên chữ cái Latin từ những năm 1950, nhưng hệ thống này không được sử dụng ở Việt Nam. Hiện nay, người Bố Y sử dụng chữ Quốc ngữ trong giáo dục. Nhiều người lớn tuổi còn biết đọc viết chữ Hán.
Di sản văn hóa
- Dân ca Bố Y: Kho tàng dân ca phong phú với nhiều làn điệu: hát tửu ca (hát rượu), hát giao duyên, hát đám cưới, hát ru, hát mừng nhà mới. Các bài dân ca thường được hát theo phong cách đối đáp, giàu cảm xúc và hình ảnh thiên nhiên.
- Trang phục truyền thống: Đặc biệt là bộ trang phục nữ với khăn đội đầu đen hình chóp, áo dài năm thân đen, trang sức bạc – là biểu tượng nhận diện của dân tộc Bố Y.
- Gia phả dòng họ: Truyền thống ghi chép gia phả bằng chữ Hán qua nhiều đời là di sản lịch sử quý giá, giúp truy nguyên nguồn gốc và quá trình di cư.
- Nghệ thuật kiến trúc: Nhà ở truyền thống của người Bố Y là nhà trình tường kết hợp nhà nửa sàn, nửa đất, kiến trúc vững chắc, phù hợp với địa hình vùng núi.
- Tri thức y học dân gian: Người Bố Y có nhiều bài thuốc dân gian từ cây cỏ vùng núi, được thầy Tào và người cao tuổi truyền lại.
- Người Bố Y là dân tộc rất ít người (khoảng 3.200 người), đang được Nhà nước triển khai nhiều chính sách bảo tồn văn hóa, hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội theo Đề án bảo tồn và phát triển các dân tộc rất ít người.
Lễ hội
Phong tục
Người Bố Y có tập quán thờ cúng tổ tiên nghiêm ngặt kết hợp ảnh hưởng của Đạo giáo. Hôn nhân một vợ một chồng, cưới xin theo nhiều bước lễ nghi phức tạp. Tang lễ trang trọng, thầy cúng đóng vai trò quan trọng trong các nghi thức tiễn đưa người chết.