Cống
Tên khác: Xắm Khống, Mông Nhé, Phuy A
2.700
Dân số
Tạng - Miến (ngữ hệ Hán - Tạng)
Nhóm ngôn ngữ
Lai Châu (Mường Tè), Điện Biên (Mường Nhé)
Địa bàn chính
Giới thiệu
Dân tộc Cống (còn gọi là Xắm Khống, Mông Nhé, Phuy A) — Người Cống là một trong những dân tộc ít người nhất Việt Nam, sống chủ yếu ở vùng núi cao biên giới Tây Bắc. Họ có nền văn hóa truyền thống phong phú với tục nhuộm răng đen, lễ hội hoa mào gà và nghệ thuật dệt vải thủ công.
Video minh họa
Nhóm ngôn ngữ
Người Cống thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến trong ngữ hệ Hán - Tạng, nhánh Lô Lô. Tiếng Cống có quan hệ gần gũi với tiếng Hà Nhì, Si La, La Hủ. Ngôn ngữ có hệ thống thanh điệu riêng, nhiều từ vựng gắn với nông nghiệp nương rẫy và đời sống rừng núi. Do dân số ít và sống xen kẽ với người Thái, Hà Nhì, nhiều người Cống có thể nói song ngữ hoặc đa ngữ.
Tên gọi khác
Dân tộc Cống còn được gọi là Xắm Khống, Mông Nhé, Phuy A. Tên tự gọi “Cống” có nghĩa là “người” trong tiếng Cống. Người Thái thường gọi họ là “Xắm Khống”. Người Cống cư trú tập trung tại một số bản ven sông Đà thuộc huyện Mường Tè (Lai Châu) và huyện Mường Nhé (Điện Biên).
Quá trình hình thành
Tổ tiên người Cống có nguồn gốc từ vùng Vân Nam (Trung Quốc), thuộc nhóm tộc Tạng - Miến. Theo truyền thuyết và lời kể của các già làng, người Cống di cư sang Việt Nam khoảng 300 – 500 năm trước, theo tuyến đường từ vùng Xishuangbanna (Vân Nam) qua biên giới vào Lai Châu. Họ định cư tại các thung lũng hẹp ven sông Đà và các nhánh suối ở vùng núi cao huyện Mường Tè. Do địa bàn hẻo lánh, giao thông khó khăn, người Cống sống tương đối biệt lập, giữ được nhiều phong tục truyền thống nhưng kinh tế phát triển chậm.
Trang phục
Trang phục truyền thống người Cống có nét riêng biệt:
- Phụ nữ: Mặc áo cánh ngắn chàm đen, cổ tròn, xẻ ngực hoặc xẻ vai, tay áo dài. Nẹp áo và gấu áo trang trí viền đỏ, các đường thêu hoa văn hình học nhỏ. Váy dài chàm đen hoặc xanh đậm, thắt lưng vải. Đặc biệt, phụ nữ Cống đội khăn đen quấn gọn trên đầu, đeo nhiều vòng bạc ở cổ, tay, chân – đây là của hồi môn và biểu tượng sự giàu có.
- Nam giới: Áo cánh ngắn chàm đen, quần ống rộng, đầu quấn khăn đen. Trang phục đơn giản, gọn gàng phù hợp lao động nương rẫy.
- Phụ nữ Cống tự dệt vải, nhuộm chàm và thêu trang trí bằng tay.
Ẩm thực
Ẩm thực người Cống mang đậm nét vùng cao Tây Bắc:
- Gạo nương là lương thực chính, trồng lúa trên nương rẫy. Ngoài ra còn trồng ngô, sắn bổ sung.
- Thịt lợn gác bếp: Thịt lợn ướp muối, gác trên bếp lửa hun khói nhiều tháng – là món dự trữ quanh năm.
- Cá suối: Bắt cá ở sông Đà và các suối, nướng trực tiếp trên than hoặc gói lá nướng.
- Rau rừng, măng, nấm: Hái lượm từ rừng tự nhiên, là nguồn rau xanh phong phú.
- Rượu cần: Nấu từ gạo nương, ủ trong chum sành, uống bằng ống trúc – là thức uống quan trọng trong mọi dịp lễ hội, tiếp khách.
- Xôi nếp nương: Xôi đồ từ nếp nương thơm dẻo, dùng trong các dịp lễ Tết, cưới hỏi.
- Gia vị: ớt, gừng, sả, mắc khén (hạt tiêu rừng Tây Bắc).
Phong tục
- Nhuộm răng đen: Cả nam và nữ đều nhuộm răng đen bằng nhựa cánh kiến hoặc nhựa cây rừng. Răng đen được coi là chuẩn mực vẻ đẹp, thể hiện sự trưởng thành.
- Hôn nhân: Nhà trai chủ động đi hỏi, mang lễ vật gồm bạc trắng, rượu, lợn, gà. Lễ cưới tổ chức tại nhà gái, có uống rượu cần, hát đối đáp. Cô dâu về nhà chồng sau lễ cưới, có tục ở rể ngắn hạn.
- Tang lễ: Người chết được tắm rửa, mặc quần áo mới, bọc trong vải trắng, đặt trong quan tài gỗ. Chôn cất tại rừng ma riêng của dòng họ. Có tục khóc kể công đức, đốt vàng mã.
- Phân biệt dòng họ: Mỗi dòng họ Cống có rừng ma riêng, có vật tổ riêng (kiêng ăn một loại thịt nhất định – ví dụ kiêng thịt hổ, thịt gấu).
Tín ngưỡng
Người Cống theo tín ngưỡng đa thần và thờ cúng tổ tiên:
- Tin vào vạn vật hữu linh – núi, sông, rừng, đá đều có linh hồn và thần linh ngự trị.
- Thờ cúng tổ tiên tại bàn thờ trong nhà, cúng vào các dịp Tết, cơm mới, tang lễ, khi có người ốm.
- Cúng rừng: Mỗi năm tổ chức một lần, cả bản cùng cúng thần rừng, cầu mùa màng tốt tươi, bản làng bình an. Trong ngày cúng, cấm mọi người vào rừng.
- Thầy mo chủ trì nghi lễ cúng bản, cúng chữa bệnh, cúng tang lễ.
- Kiêng kỵ: Không đem thịt chó vào bản, không chặt cây trong rừng thiêng, không huýt sáo ban đêm.
- Mỗi dòng họ có vật tổ (totem) riêng, kiêng ăn thịt con vật đó.
Chữ viết
Người Cống không có chữ viết riêng. Mọi tri thức, lịch sử, phong tục, bài cúng đều được truyền miệng qua các thế hệ, do các già làng và thầy mo gìn giữ. Hiện nay, người Cống sử dụng chữ Quốc ngữ trong giáo dục. Ngôn ngữ Cống được xếp vào danh mục ngôn ngữ có nguy cơ mai một cần bảo tồn.
Di sản văn hóa
- Lễ hội hoa mào gà (Mền Loóng Phạt Ái): Lễ hội đặc sắc nhất, tổ chức vào dịp hoa mào gà nở rộ (khoảng tháng 9–10), với nghi lễ cúng thần, múa hát, uống rượu cần, thi kéo co, ném còn. Lễ hội này đã được đề nghị công nhận là di sản văn hóa phi vật thể.
- Nghề dệt vải thủ công: Phụ nữ Cống dệt vải trên khung cửi truyền thống, nhuộm chàm tự nhiên, thêu hoa văn bằng tay – là nghề truyền thống quý giá.
- Dân ca Cống: Các bài hát giao duyên, hát đám cưới, hát ru con mang giai điệu riêng biệt.
- Nghệ thuật đan lát: Đan gùi, rổ, rá, nong, nia từ tre nứa, phục vụ đời sống hàng ngày.
- Tri thức về cây thuốc: Người Cống có vốn kiến thức phong phú về các loại cây thuốc rừng chữa bệnh truyền thống.
- Người Cống được Nhà nước xếp vào danh sách dân tộc đặc biệt ít người cần hỗ trợ bảo tồn văn hóa và phát triển kinh tế.
Lễ hội
Phong tục
Người Cống có tục nhuộm răng đen bằng nhựa cánh kiến, coi răng đen là vẻ đẹp. Hôn nhân theo tục nhà trai đến hỏi, phải nộp sính lễ gồm bạc trắng, rượu, lợn. Tang lễ giản dị, chôn cất tại rừng ma dòng họ.