Hà Nhì
Tên khác: U Ní, Xá U Ní, Hà Nhì Già, Hà Nhì La Mí, Hà Nhì Cồ Chồ
25.000
Dân số
Tạng - Miến (ngữ hệ Hán - Tạng)
Nhóm ngôn ngữ
Lai Châu (Mường Tè, Phong Thổ), Lào Cai (Bát Xát)
Địa bàn chính
Giới thiệu
Dân tộc Hà Nhì (còn gọi là U Ní, Xá U Ní, Hà Nhì Già, Hà Nhì La Mí, Hà Nhì Cồ Chồ) — Người Hà Nhì có kỹ thuật canh tác ruộng bậc thang điêu luyện, tạo nên những cảnh quan tuyệt đẹp ở vùng núi cao Tây Bắc. Họ nổi tiếng với kiến trúc nhà trình tường và các lễ hội mùa vụ đặc sắc.
Video minh họa
Nhóm ngôn ngữ
Người Hà Nhì thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến trong ngữ hệ Hán - Tạng, nhánh Lô Lô – Miến. Tiếng Hà Nhì có quan hệ gần gũi với tiếng Hà Nhì (Hani) ở Vân Nam, Trung Quốc. Tại Việt Nam, tiếng Hà Nhì có ba phương ngữ chính: Hà Nhì Già, Hà Nhì La Mí và Hà Nhì Cồ Chồ, tương đối dễ hiểu nhau.
Tên gọi khác
Dân tộc Hà Nhì còn được gọi là U Ní, Xá U Ní. Ở Trung Quốc, họ là dân tộc Hani (哈尼族) – một trong 55 dân tộc thiểu số chính thức. Tại Việt Nam, người Hà Nhì chia thành ba nhóm: Hà Nhì Già (Hà Nhì Đen), Hà Nhì La Mí (Hà Nhì Hoa) và Hà Nhì Cồ Chồ, mỗi nhóm có đặc điểm trang phục và phong tục hơi khác nhau.
Quá trình hình thành
Tổ tiên người Hà Nhì có nguồn gốc từ vùng cao nguyên Thanh Tạng (Tây Tạng), thuộc nhóm tộc Khương cổ đại. Trải qua hàng ngàn năm, họ dần di cư xuống phía Nam đến vùng Vân Nam (Trung Quốc), nơi họ trở thành cư dân chính trên các triền núi cao. Với dân số hơn 1,6 triệu người ở Trung Quốc, người Hani đã xây dựng nên hệ thống ruộng bậc thang Hồng Hà – Di sản thế giới UNESCO. Người Hà Nhì di cư vào Việt Nam khoảng 300 – 400 năm trước qua các tuyến đường biên giới. Họ định cư tại vùng núi cao trên 1.000m ở Lai Châu và Lào Cai, tiếp tục phát triển kỹ thuật canh tác ruộng bậc thang nổi tiếng.
Trang phục
Trang phục Hà Nhì đặc trưng với tông màu chàm đen (do tự nhuộm bằng chàm):
- Phụ nữ Hà Nhì Già: Mặc áo dài chàm đen, cổ tròn, xẻ ngực, trang trí bằng các hàng cúc bạc hoặc đồng dọc ngực áo. Váy xòe xếp nếp rất kỳ công, có thể có hàng trăm nếp gấp. Đội khăn vuông hoặc mũ tròn đính bạc, hạt cườm. Đeo nhiều vòng bạc cổ, tay, chân.
- Phụ nữ Hà Nhì La Mí: Trang phục rực rỡ hơn, áo ngắn có viền thêu đỏ, xanh, trắng, đội mũ trang trí đồng bạc và tua len đỏ.
- Phụ nữ Hà Nhì Cồ Chồ: Đội khăn có hình dáng như chiếc mũ nhọn, trang trí cầu kỳ.
- Nam giới: Áo cánh ngắn chàm đen, quần ống rộng, đầu quấn khăn đen. Trang phục giản dị, gọn gàng.
Ẩm thực
Ẩm thực Hà Nhì phong phú, gắn liền với ruộng bậc thang và rừng núi:
- Gạo nương từ ruộng bậc thang là lương thực chính, có nhiều giống lúa bản địa thơm ngon.
- Thịt lợn gác bếp: Thịt lợn ướp muối, treo trên gác bếp hun khói hàng tháng – món đặc sản nổi tiếng.
- Thắng cố: Món canh nấu từ nội tạng ngựa, bò kết hợp thảo quả, gừng, ớt – phổ biến trong chợ phiên.
- Rượu ngô, rượu gạo nấu thủ công, dùng trong mọi dịp tiếp khách, lễ hội.
- Xôi ngũ sắc: Xôi nhuộm bằng lá cây tự nhiên (đỏ, vàng, xanh, tím, trắng) làm trong dịp Tết.
- Rau rừng, măng, nấm hương, mộc nhĩ thu hái từ rừng.
- Cá ruộng bậc thang: Cá nuôi trong ruộng lúa, bắt vào mùa gặt, nướng hoặc kho.
Phong tục
- Hôn nhân: Lễ cưới kéo dài 3 ngày, nhà trai phải mang sính lễ gồm lợn, gà, rượu, bạc trắng. Cô dâu khóc tiễn biệt khi rời nhà mẹ (tục khóc nhà – biểu thị lòng hiếu thảo). Đám cưới có hát đối đáp giữa hai họ.
- Tang lễ: Rất trang trọng, người chết được tắm rửa, mặc đồ mới, đặt trong quan tài gỗ. Có tục khóc kể công đức người chết, đánh trống chiêng suốt đêm. Người chết được chia của mang theo (quần áo, đồ dùng).
- Tục làm nhà: Khi dựng nhà mới, cả bản đến giúp. Chọn ngày lành, cúng đất, cúng thần, làm lễ vào nhà mới long trọng.
- Cúng rừng (Gạ Ma Thú): Nghi lễ quan trọng nhất trong năm, toàn bản cúng thần rừng thiêng, cấm mọi người vào rừng trong ngày cúng.
Tín ngưỡng
Người Hà Nhì theo tín ngưỡng đa thần và thờ cúng tổ tiên:
- Tin vào thần thiên nhiên: thần trời (A Pố), thần đất, thần rừng, thần nước, thần lửa. Mỗi vị thần cai quản một khía cạnh cuộc sống.
- Thờ cúng tổ tiên rất trang nghiêm, bàn thờ đặt ở vị trí trang trọng nhất trong nhà. Mỗi năm cúng nhiều lần vào các dịp Tết, cơm mới, sinh con.
- Rừng thiêng: Mỗi bản có một khu rừng thiêng (rừng cấm) là nơi ngự của thần linh, tuyệt đối không ai được chặt cây, săn bắn. Đây cũng là cách bảo vệ rừng đầu nguồn hiệu quả.
- Thầy mo (Pi Mạ) chủ trì các nghi lễ tâm linh, đọc bài cúng bằng tiếng Hà Nhì cổ.
Chữ viết
Người Hà Nhì ở Việt Nam không có chữ viết riêng, tri thức truyền miệng qua các bài ca, câu chuyện kể, bài cúng. Tuy nhiên, ở Trung Quốc, người Hani đã có hệ thống chữ Hani La-tinh hóa từ năm 1957. Hiện nay, người Hà Nhì ở Việt Nam sử dụng chữ Quốc ngữ trong giáo dục.
Di sản văn hóa
- Kỹ thuật canh tác ruộng bậc thang: Tri thức xây dựng và canh tác ruộng bậc thang trên sườn núi cao là di sản tri thức dân gian quý báu. Ruộng bậc thang của người Hà Nhì tạo nên cảnh quan tuyệt đẹp ở Y Tý (Lào Cai), là điểm du lịch nổi tiếng. (Ruộng bậc thang Hồng Hà của người Hani ở Vân Nam được UNESCO công nhận là Di sản thế giới năm 2013.)
- Nhà trình tường: Nhà ở truyền thống xây bằng đất nện (trình tường), mái phẳng hoặc mái dốc, giữ ấm mùa đông, mát mùa hè – kiến trúc đặc trưng vùng cao.
- Lễ hội Gạ Ma Thú (cúng rừng thiêng): Nghi lễ cộng đồng thể hiện mối quan hệ hài hòa giữa con người và thiên nhiên.
- Dân ca, dân vũ Hà Nhì: Các bài hát giao duyên, hát lễ hội, hát ru với giai điệu sâu lắng. Múa xòe vòng tặng tập thể trong lễ hội.
- Nghề dệt thủ công và nghề rèn truyền thống phục vụ đời sống.
Lễ hội
Phong tục
Người Hà Nhì có tục thờ cúng tổ tiên rất trang nghiêm, mỗi gia đình có bàn thờ riêng. Trong hôn nhân, lễ cưới kéo dài 3 ngày với nhiều nghi thức: dạm hỏi, thách cưới, đón dâu. Tang lễ sử dụng trống, chiêng, có tục khóc tiễn và chia của cho người chết mang về thế giới bên kia.