Sán Chay
Tên khác: Cao Lan, Sán Chỉ, Mán, Hờn Bạn, Chùng
201.000
Dân số
Tày - Thái (ngữ hệ Tai - Kadai) và Hán (ngữ hệ Hán - Tạng)
Nhóm ngôn ngữ
Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang, Quảng Ninh, Phú Thọ, Yên Bái, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc
Địa bàn chính
Giới thiệu
Dân tộc Sán Chay (còn gọi là Cao Lan, Sán Chỉ, Mán, Hờn Bạn, Chùng) — Dân tộc Sán Chay gồm hai nhóm Cao Lan và Sán Chỉ, có nền văn hóa đa dạng là sự giao thoa độc đáo giữa các yếu tố Tày - Thái và Hán. Nổi tiếng với hát Sình ca (Soóng cọ), múa Tắc Xình và tranh thờ dân gian.
Video minh họa
Nhóm ngôn ngữ
Dân tộc Sán Chay có đặc điểm ngôn ngữ rất đặc biệt – gồm hai nhóm nói hai ngôn ngữ khác hệ:
- Cao Lan: Nói tiếng Cao Lan thuộc nhóm Tày - Thái (ngữ hệ Tai-Kadai). Tiếng Cao Lan gần với tiếng Tày, Nùng, Choang.
- Sán Chỉ: Nói tiếng Sán Chỉ thuộc nhóm Hán (ngữ hệ Hán - Tạng). Tiếng Sán Chỉ gần với phương ngữ Quảng Đông (Cantonese) ở miền Nam Trung Quốc.
Dù nói hai ngôn ngữ khác hệ, hai nhóm được xếp chung một dân tộc vì có chung cội nguồn lịch sử, văn hóa tương đồng và tự nhận là anh em. Đây là trường hợp đặc biệt nhất trong 54 dân tộc Việt Nam.
Tên gọi khác
Dân tộc Sán Chay gồm hai nhóm chính: Cao Lan (nhóm đông hơn) và Sán Chỉ (nhóm ít hơn). Các tên gọi khác: Hờn Bạn (tên tự gọi một nhóm Cao Lan), Chùng, Mán (tên gọi cũ). Tên “Sán Chay” là tên chung chính thức. Người Cao Lan tự gọi là “Hờn Bạn” (người bạn/người trong nhà), người Sán Chỉ tự gọi là “Sán Chỉ” (người vùng núi).
Quá trình hình thành
Người Sán Chay có nguồn gốc từ miền Nam Trung Quốc, di cư sang Việt Nam theo nhiều đợt:
- Cao Lan: Có nguồn gốc từ vùng Quảng Tây, Quảng Đông (Trung Quốc). Thuộc nhóm Zhuang (Choang) ở Trung Quốc, di cư sang Việt Nam từ khoảng thế kỷ 15 – 17. Mang theo văn hóa nông nghiệp lúa nước và hệ thống tín ngưỡng Tày-Thái.
- Sán Chỉ: Có nguồn gốc từ vùng Quảng Đông, thuộc nhóm cư dân Hán phương Nam, di cư sang Việt Nam cùng thời kỳ hoặc muộn hơn (thế kỷ 16 – 18).
- Tại Việt Nam, hai nhóm sống xen kẽ ở vùng trung du Đông Bắc (Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang, Quảng Ninh), dần hòa nhập về văn hóa, phong tục, đặc biệt qua hôn nhân xen kẽ.
- Năm 1979, Chính phủ xếp Cao Lan và Sán Chỉ chung thành dân tộc Sán Chay – một quyết định gây tranh luận nhưng phản ánh sự gắn bó lâu đời giữa hai nhóm.
- Cư trú chủ yếu ở vùng đồi núi thấp, trung du – giữa đồng bằng và vùng cao.
Trang phục
Trang phục Sán Chay đa dạng, khác nhau giữa hai nhóm:
- Phụ nữ Cao Lan: Áo dài chàm tứ thân (4 vạt), xẻ nách phải, viền cổ và nẹp áo thêu hoa văn sặc sỡ (đỏ, vàng, xanh). Dải yếm trước ngực. Thắt lưng vải nhiều màu quấn quanh eo. Váy chàm đen dài. Đầu đội khăn chàm. Đeo vòng bạc, khuyên tai.
- Phụ nữ Sán Chỉ: Áo cánh ngắn chàm, quần ống rộng. Trang phục gần với phong cách Hán hơn. Khăn quấn đầu đen.
- Nam giới (cả hai nhóm): Áo cánh ngắn chàm, quần ống rộng, thắt lưng. Áo dài chàm vào dịp lễ.
- Đặc trưng Cao Lan: Hoa văn thêu trên áo rất đặc sắc – hình hoa, hình chim, hình sao, bằng chỉ ngũ sắc. Kỹ thuật thêu mặt trái (thêu từ mặt trong ra) nổi tiếng tinh xảo.
Ẩm thực
Ẩm thực Sán Chay kết hợp đặc trưng Tày và Hán:
- Xôi ngũ sắc: Nấu vào dịp lễ, tết – 5 màu tượng trưng ngũ hành, dùng lá cây rừng nhuộm.
- Thịt lợn quay: Lợn quay nguyên con, da giòn – món đãi khách quý.
- Bánh chưng gù: Bánh chưng hình trụ dài (không vuông như Kinh) – đặc sản Tết.
- Bánh ngải: Bánh từ bột nếp trộn lá ngải cứu – thơm đặc biệt.
- Rượu men lá: Nấu từ gạo, sắn với men lá rừng tự nhiên.
- Thịt gác bếp: Lợn, trâu ướp muối treo gác bếp hun khói.
- Canh măng, rau rừng: Thu hái từ rừng quanh năm.
- Cá suối nướng: Cá suối kẹp nan tre nướng than – đặc sản.
Phong tục
- Hát Sình ca (Soóng cọ): Nét văn hóa đặc sắc nhất – hát đối đáp giao duyên giữa nam nữ, ứng khẩu thành thơ bằng tiếng Cao Lan hoặc Sán Chỉ. Hội Soóng cọ tổ chức vào dịp Tết, lễ hội, thu hút đông đảo nam nữ từ các làng.
- Hôn nhân: Chế độ phụ hệ. Trai gái tìm hiểu nhau qua hát Sình ca. Cưới hỏi trang trọng: dạm ngõ, ăn hỏi, rước dâu. Thách cưới bằng bạc, lợn, gạo, rượu. Hôn nhân giữa Cao Lan và Sán Chỉ phổ biến.
- Tang lễ: Thầy tào (thầy cúng) chủ trì, làm lễ nhiều ngày. Đọc kinh dẫn hồn, múa tào. Chôn cất ở nghĩa địa chung.
- Lễ đình làng: Thờ Thành hoàng – lễ hội cộng đồng lớn, có múa Tắc Xình (Cao Lan) hoặc hát then.
- Nhà sàn: Cao Lan ở nhà sàn truyền thống (kiểu Tày-Thái). Sán Chỉ có xu hướng ở nhà trệt (kiểu Hán).
Tín ngưỡng
Người Sán Chay theo tín ngưỡng đa thần, kết hợp thờ cúng tổ tiên và ảnh hưởng Đạo giáo, Nho giáo:
- Thờ cúng tổ tiên: Trung tâm đời sống tâm linh, bàn thờ ở vị trí cao nhất trong nhà.
- Thờ Thành hoàng: Mỗi làng có đình thờ Thành hoàng bảo hộ – lễ hội đình là sự kiện lớn nhất.
- Thầy Tào (đạo sĩ): Sử dụng kinh sách, bùa chú ảnh hưởng Đạo giáo. Thực hiện tang lễ, giải hạn, cầu an.
- Thần Nông, Thổ công: Thờ cúng để cầu mùa, bảo vệ ruộng đồng.
- Cao Lan: Tín ngưỡng gần với Tày – thờ phi bản, phi rừng.
- Sán Chỉ: Tín ngưỡng gần với Hán – thờ các vị thần Đạo giáo (Ngọc Hoàng, Thổ Địa, Táo Quân…).
- Tranh thờ: Bộ tranh thờ cúng vẽ các vị thần, tổ tiên – di sản nghệ thuật quý.
Chữ viết
Hệ thống chữ viết Sán Chay phản ánh tính hai ngôn ngữ:
- Chữ Hán: Sử dụng phổ biến trong sách cúng, kinh tào, đối liễn, tranh thờ – đặc biệt ở nhóm Sán Chỉ.
- Chữ Nôm Cao Lan: Một số nhóm Cao Lan dùng chữ Nôm (biến thể chữ Hán) ghi tiếng Cao Lan, chủ yếu trong sách cúng và bài hát Sình ca.
- Sách cổ: Kho tàng sách cúng, kinh tào, truyện thơ bằng chữ Hán và Nôm lưu giữ trong các gia đình thầy tào.
- Hiện nay sử dụng chữ Quốc ngữ trong giáo dục phổ thông.
Di sản văn hóa
- Hát Sình ca (Soóng cọ): Nghệ thuật hát đối đáp giao duyên – di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, thể hiện tài năng ứng tác thơ ca dân gian độc đáo.
- Múa Tắc Xình: Điệu múa nghi lễ cổ xưa của người Cao Lan – múa theo nhịp gõ ống tre, có 9 bước cơ bản tượng trưng 9 bước sản xuất nông nghiệp. Đã được công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
- Tranh thờ Sán Chay: Bộ tranh thờ vẽ trên giấy bản – di sản nghệ thuật dân gian mang giá trị thẩm mỹ và tâm linh.
- Kiến trúc nhà sàn Cao Lan: Kiểu nhà sàn đặc trưng vùng trung du.
- Nghề thêu Cao Lan: Kỹ thuật thêu mặt trái tinh xảo – hoa văn ngũ sắc trên áo dài chàm.
- Truyện thơ Sán Chay: Kho tàng văn học – truyện thơ tình yêu, sử thi, truyện cổ bằng tiếng Cao Lan và Sán Chỉ.
- Mô hình hai nhóm – một dân tộc: Trường hợp đặc biệt nhất trong hệ thống 54 dân tộc – hai nhóm nói tiếng khác hệ ngôn ngữ nhưng cùng một dân tộc, có giá trị nghiên cứu dân tộc học quốc tế.
Lễ hội
Phong tục
Người Sán Chay thờ cúng tổ tiên, Thành hoàng và các vị thần. Hôn nhân theo chế độ phụ hệ, trai gái tìm hiểu nhau qua hát Sình ca (Soóng cọ). Tang lễ do thầy tào chủ trì với nghi thức cầu kỳ.